Dấu hiệu của phong cách này là khi bạn đọc các tác phẩm của Spinoza, bạn có thể bỏ qua rất nhiều giống như cách bạn đọc tác phẩm của Newton. Các quy tắc đọc phân tích đều hướng tới việc vượt qua trở ngại này. Tiêu biểu chỉ có thể kể đến các vở bi kịch của Aeschylus, Sophocles và Euripedes, các vở kịch của Shakespeare, các vở hài kịch của Moliere và một vài tác phẩm của số ít nhà văn hiện đại.
Từ đầu đến giờ, chưa có phần nào nói cụ thể về cách đọc hai hoặc nhiều cuốn sách về cùng một chủ đề. Cố gắng hết mức có thể để sống trong thế giới của nhân vật đó chứ không phải thế giới của bạn. Có thể anh ta đúng hoặc sai, nói dối hay nói thật, nhưng điều cần thiết ở đây là bạn sẽ nhanh chóng tìm được lối ra bằng việc đi theo hành lang B.
Mặc dù bạn có thể hỏi và trả lời trong đầu, nhưng nếu bạn dùng bút và giấy làm việc đó thì sẽ dễ dàng hơn. ĐÁNH SỐ CỦA NHỮNG TRANG KHÁC BÊN LỀ: Để chỉ ra những chỗ khác trong cuốn sách có nhận định tương tự, hay những ý liên quan hoặc đối lập với những ý đã được đánh dấu; tập hợp các ý liên quan đến nhau nhưng nằm rải rác trong cuón sách. Bạn sẽ không theo được tính liền mạch và trình tự nội dung cuốn sách nếu ngay từ đầu đã phải tra quá nhiều từ.
Trong giai đoạn hai, trẻ được học các kỹ năng cơ bản như sử dụng ngữ cảnh, hay các gợi ý về nghĩa và các âm đầu của từ. Tuy nhiên, những người theo chủ nghĩa Marxists chính thống cho rằng các tác phẩm của Marx cũng phải được đọc theo cách mà những người Do Thái hay Cơ đốc giáo chính thống đọc Kinh Thánh. Kết quả là lịch sử thế giới bị thay đổi (dù nhỏ nhưng vẫn có thể nhận ra được) bởi quan điểm của một bộ phận nhân vật trong tác phẩm của Thucydides.
Đa số họ chỉ chuyên tâm vào các câu hỏi hạng hai và thường là những câu liên quan đến ngôn ngữ diễn đạt suy nghĩ. Nhưng người nguyên thuỷ có thể không nhất trí với nhà khoa học về các dữ kiện phân tử hạt nhân, cũng như nhà khoa học không tin vào các dữ kiện về phép thuật mang tính nghi thức của người nguyên thuỷ. Khi đọc các tác phẩm mang tính mô tả, giải thích, bạn cũng nên áp dụng quy tắc này.
Cuốn sách được xuất bản kèm theo phần phụ lục dài nơi Shaw giải thích ý nghĩa vở kịch và giúp độc giả tìm ra cách hiểu đúng. Các quy tắc đọc phân tích đều hướng tới việc vượt qua trở ngại này. Nó có thể giúp bạn hiểu sâu hơn về thứ tự và cách sắp xếp các đơn vị kiến thức nhưng vẫn có giới hạn của nó.
Phát hiện này cũng rất quan trọng với những độc giả luôn khao khát mở rộng tầm hiểu biết xa hơn những suy nghĩ và kinh nghiệm thiển cận. Nhưng luận cứ quy nạp vẫn được coi là đặc trưng cho khoa học. Ai thực hiện nhiều hoạt động hơn sẽ đọc tốt hơn.
Anh ta không thể thấy những thứ mà chúng ta không thể, mà chỉ có thể nhìn rõ hơn hay nhìn theo cách hơi khác so với chúng ta. Ngược lại, sách triết học quy phạm quan tâm chủ yếu đến các mục tiêu mà mọi người nên tìm kiếm như sống tốt hay xây dựng một xã hội tốt. Những thông tin này được cung cấp bởi các nghiên cứu sau đó.
Độc giả có thể phải chứng kiến các thí nghiệm minh hoạ trong phòng thí nghiệm; xem xét và nắm bắt các tình huống tương tự trong sách; đến bảo tàng quan sát các mẫu hoặc các mô hình… Nếu bạn muốn diễn đạt chính xác tính chỉnh thể của một cuốn sách (quy tắc 2), bạn phải chỉ rõ được những phần đã làm nên tính chỉnh thể ấy (quy tắc 3). Hai thể loại này đều cần tới cả lý trí và óc tưởng tượng, nhưng khác nhau về cách thức.
Nhiều người lớn cũng cảm thấy hấp dẫn, muốn tham gia vào các khoá học đọc cấp tốc nhằm giúp họ hiểu nhiều hơn những gì mình đọc, cũng như tăng tốc độ đọc. Thứ hai là khi có đôi chút hiểu biết đặc biệt về chủ đề của tác phẩm, ta có thể nghĩ sử gia đã sử dụng nhầm nguồn tài liệu của ông ta hoặc có thể bị thông tin nhầm về những sự kiện liên quan đến chủ đề. Phần này rất cần thiết đối với những độc giả đã đọc hết cả cuốn sách.